Thị trường tài chính hiện nay đang từng bước chờ đợi Chính phủ mở cửa lại nền kinh tế và tập trung khôi phục hoạt động sản xuất, chuỗi cung ứng hàng hóa, giúp cải thiện cán cân thương mại vào giai đoạn cuối năm. Các dự án FDI cũng theo đó được tăng cường giải ngân, giúp cho đồng USD diễn biến tích cực hơn. Theo các chuyên gia tài chính nhận định, nguồn cung – cầu trên thị trường sẽ dần tương đối ổn định. Điều này giúp tỷ giá đồng USD duy trì trạng thái ổn định trong thời gian tới.
Đo lường biến động của đồng bạc xanh
Vừa qua, chỉ số US Dollar Index (DXY), đo lường biến động của đồng bạc xanh với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đứng ở mức 95,14 điểm. Dữ liệu sơ bộ về tâm lý người tiêu dùng tháng 11, theo đó chỉ số này bất ngờ giảm xuống mức thấp nhất trong vòng 10 năm. Theo đó, nhiều người tham gia khảo sát đã chỉ ra những lo ngại về lạm phát khiến mức sống bị ảnh hưởng. Trong khi đó, Bộ Lao động Mỹ cho biết, lượng người lao động tự nguyện bỏ việc tăng lên mức kỷ lục trong tháng 9 với 4.43 triệu người, trong khi nền kinh tế Mỹ có 10,44 triệu việc làm trong tháng.
Các chuyên gia dự đoán rằng loạt dữ liệu kinh tế mới của Trung Quốc trong tuần này sẽ góp phần xác nhận sự chững lại của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Bên cạnh đó, Châu Âu đang trải qua một đợt bùng phát dịch COVID-19 mới, điều này có thể đè nặng lên triển vọng kinh tế chung thời gian tới.
Ngoài ra, nhà đầu tư cũng sẽ theo dõi thêm số liệu việc làm của Anh, đặc biệt là sau khi Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) muốn có thể bằng chứng về sự phục hồi của thị trường lao động trước khi tăng lãi suất. Trong khi đó, Cục Dự trữ Liên bang (FED) cảnh báo rằng, giá của các tài sản rủi ro tiếp tục tăng khiến chúng dễ rơi vào tình trạng nguy hiểm hơn nếu nền kinh tế diễn biến theo chiều hướng xấu hơn.
Đồng USD tại Việt Nam chững lại
Tại Việt Nam, trái ngược với diễn biến trên thị trước quốc tế, tỷ giá USD/VND niêm yết ở các ngân hàng thương mại giảm nhẹ 10 đồng ở cả 2 chiều mua và bán trong tuần trước và đầu tuần này tiếp tục đi ngang. Giao dịch ở quanh mức 22.630 – 22.660 đồng/USD chiều mua và 22.835 – 22.860 đồng/USD chiều bán. Biến động mạnh của giá vàng thế giới trong tuần qua đã giảm tới 1,4% so với cuối tuần trước trong phiên ngày thứ 4 và kết tuần quay trở lại tăng 0,6%, khiến chênh lệch giữa giá vàng trong nước – quốc tế đã có lúc tiến sát mức 10 triệu đồng/lượng. Điều này đã khiến tỷ giá trên thị trường tự do biến động mạnh.
Khi đồng USD tăng thì các đồng tiền đối trọng với nó đã giảm mạnh. Theo chuyên gia tài chính tại SSI, đồng USD chững lại ở thị trường Việt Nam đó là do số liệu cán cân thương mại tích cực. Tổng cục Thống kê ước tính, trong tháng 9 hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam đã nghiêng về xuất siêu 500 triệu USD. Do đó nguồn cung đồng USD trong các tổ chức kinh tế, tài chính khá dồi dào.
Đồng USD trên thị trường tự do ổn định, giao dịch ở mức 23.320 – 23.370 VND/USD. Sacombank ghi nhận giá mua USD cao nhất ở mức 22.547 VND/USD. Trong khi đó, tại Eximbank có giá bán ra USD thấp nhất duy trì ở mức là 22.730 VND/USD.
FED bắt đầu cắt giảm lãi suất
FED đã cắt giảm lãi suất xuống gần 0 và bắt đầu mua một lượng lớn trái phiếu kho bạc và chứng khoán được bảo đảm bằng thế chấp, điều này đã góp phần vào xu hướng tăng của cổ phiếu và các tài sản khác. Trong khi thị trường chứng khoán từ lâu đã không còn bị ảnh hưởng bởi đại dịch, FED vẫn giữ nguyên các chính sách khẩn cấp để giúp tình hình việc làm phục hồi vì quá trình này chậm hơn nhiều.
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố tỷ giá trung tâm của đồng USD ở mức 23.115 VND. Tỷ giá USD tham khảo tại Sở giao dịch NHNN mua vào bán ra: 22.650 – 23.758 đồng. Tỷ giá Euro tại Sở giao dịch NHNN mua vào – bán ra: 25.665 đồng – 27.252 đồng.
Thông tin tỷ giá USD//VND ngày 15/11/2021.
Ngân hàng | Mua tiền mặt | Mua chuyển khoản | Bán tiền mặt | Bán chuyển khoản |
ABBank | 22.510 | 22.530 | 22.760 | 22.760 |
ACB | 22.550 | 22.570 | 22.730 | 22.730 |
Agribank | 22.540 | 22.560 | 22.740 | |
Bảo Việt | 22.525 | 22.525 | 22.745 | |
BIDV | 22.545 | 22.545 | 22.745 | |
CBBank | 22.540 | 22.560 | 22.740 | |
Đông Á | 22.570 | 22.570 | 22.740 | 22.740 |
Eximbank | 22.530 | 22.550 | 22.730 | |
GPBank | 22.550 | 22.570 | 22.730 | |
HDBank | 22.550 | 22.570 | 22.730 | |
Hong Leong | 22.530 | 22.550 | 22.750 | |
HSBC | 22.555 | 22.555 | 22.735 | 22.735 |
Indovina | 22.550 | 22.560 | 22.720 | |
Kiên Long | 22.550 | 22.570 | 22.730 | |
Liên Việt | 22.550 | 22.560 | 22.730 | |
MSB | 22.545 | 22.740 | ||
MB | 22.535 | 22.545 | 22.745 | 22.745 |
Nam Á | 22.495 | 22.545 | 22.745 | |
NCB | 22.540 | 22.560 | 22.740 | 22.810 |
OCB | 22.543 | 22.563 | 23.021 | 22.731 |
OceanBank | 22.550 | 22.560 | 22.730 | |
PGBank | 22.520 | 22.570 | 22.730 | |
PublicBank | 22.515 | 22.550 | 22.750 | 22.750 |
PVcomBank | 22.550 | 22.520 | 22.750 | 22.750 |
Sacombank | 22.547 | 22.567 | 22.759 | 22.729 |
Saigonbank | 22.550 | 22.570 | 22.740 | |
SCB | 22.570 | 22.570 | 22.740 | 22.740 |
SeABank | 22.550 | 22.550 | 22.850 | 22.750 |
SHB | 22.540 | 22.550 | 22.730 | |
Techcombank | 23.975 | 24.324 | 24.943 | |
TPB | 22.505 | 22.550 | 22.748 | |
UOB | 22.460 | 22.520 | 22.770 | |
VIB | 22.525 | 22.545 | 22.745 | |
VietABank | 22.540 | 22.570 | 22.720 | |
VietBank | 22.530 | 22.550 | 22.730 | |
VietCapitalBank | 22.530 | 22.550 | 22.755 | |
Vietcombank | 22.520 | 22.550 | 22.750 | |
VietinBank | 22.525 | 22.545 | 22.745 | |
VPBank | 23.530 | 23.550 | 22.750 | |
VRB | 22.540 | 22.550 | 22.745 |